Mỹ nhân Trung Hoa

Tập hợp các Mỹ nhân Trung Hoa thời xa xưa bao gồm cả Tứ đại Mỹ nhân.

1. Tây Thi

Thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc, Việt quốc có 1 cô gái giặt áo, ngũ quan đoan chính, phấn diện đào hoa, tướng mạo hơn người. Khi cô giặt áo bên bờ sông, bóng cô soi trên mặt nước sông trong suốt làm cô thêm xinh đẹp. Cá nhìn thấy ảnh cô, say mê đến quên cả bơi, dần dần lặn xuống đáy sông. Từ đó,người trong vùng xưng tụng cô là “Trầm Ngư”.

2. Điêu thuyền


Điêu Thuyền bái nguyệt ở hậu hoa viên của Tư Đồ Vương Doãn, đại thần của Hán Hiến Đế thời Tam Quốc, đột nhiên có một cơn gió nhẹ thổi đến, một vầng mây trôi che khuất mặt trăng. Đúng lúc đó, Vương Doãn bước ra nhìn thấy. Để khen con gái nuôi mình xinh đẹp như thế nào, Vương Doãn thường nói với mọi người rằng con gái mình đẹp đến nổi trăng sáng nhìn thấy cũng phải trốn vào sau lưng mây. Vì vậy, Điêu Thuyền được mọi người xưng tụng là “Bế Nguyệt”.

3. Vương Chiêu Quân

Thời Hán Nguyên Đế tại vị, nam bắc giao binh, vùng biên giới không được yên ổn. Hán Nguyên Đến vì an phủ Hung Nô phía bắc, tuyển Chiêu Quân kết duyên với thiền vu Hô Hàn Tà để lưỡng quốc bảo trì hoà hảo vĩnh viễn. Trong một ngày thu cao khí sảng, Chiêu Quân cáo biệt cố thổ, đăng trình về phương bắc. Trên đường đi, tiếng ngựa hí chim hót như xé nát tâm can của nàng; cảm giác bi thương thảm thiết khiến tim nàng thổn thức. Nàng ngồi trên xe ngựa gảy đàn, tấu lên khúc biệt ly bi tráng. Nhạn bay về phương nam nghe thấy tiếng đàn, nhìn thấy thiếu nữ mỹ lệ trên xe ngựa, quên cả vỗ cánh và rơi xuống đất. Từ đó, Chiêu Quân được gọi là “Lạc Nhạn”.

4. Dương Quý Phi

Đường Triều Khai Nguyên niên, có một thiếu nữ tên gọi Dương Ngọc Hoàn được tuyển vào cung. Sau khi vào cung, Ngọc Hoàn tư niệm cố hương. Ngày kia, nàng đến hoa viên thưởng hoa giải buồn, nhìn thấy hoa Mẫu Đơn, Nguyệt Quý nở rộ, nghĩ rằng mình bị nhốt trong cung, uổng phí thanh xuân, lòng không kềm được, buông lời than thở : “Hoa a, hoa a ! Ngươi mỗi năm mỗi tuổi đều có lúc nở, còn ta đến khi nào mới có được ngày ấy ?”. Lời chưa dứt lệ đã tuông rơi, nàng vừa sờ vào hoa, hoa chợt thu mình, lá xanh cuộn lại. Nào ngờ, nàng sờ phải là loại Hàm Xú Thảo (cây mắc cỡ). Lúc này, có một cung nga nhìn thấy, người cung nga đó đi đâu cũng nói cho người khác nghe việc ấy. Từ đó, mọi người gọi Dương Ngọc Hoàn là “Hoa Nhượng”.

5. Trác Văn Quân

Điển tích về Trác Văn Quân là câu chuyện tình với Trường Khanh, tức Tư mã Tương Như có tiếng đàn tuyệt chiêu, đặc biệt là khi gảy khúc Phượng Cầu, trong lòng thiếu phụ, gái thanh xuân bỗng như sóng trào.

Thời ấy, Trác Văn Quân thuộc hàng quốc sắc thiên hương, con của tri huyện Thiểm Tây Trác Bá Lộc. Nàng được gã cho thư sinh Vương Hàm Tân, đỗ tú tài rồi nhưng vẫn tiếp tục việc bút nghiên. Nửa năm hương lửa đang nồng, Hàm Tân bỗng lâm bạo bệnh từ trần. Nửa đời hồng nhan dang dở. Trong suốt thời gian làm tuần, nàng ngồi rũ rượi bên bàn thờ chồng. Bỗng một đêm, văng vẳng từ bên kia sông, tiếng đàn ai theo với lời ca não nùng:

Tình yêu là mối dây oan
Hoa tươi nghĩ lúc hoa tàn tủi thân.
Hoa tàn hoa rụng – Hoa héo đầu cành
Hận ngày xanh – Tủi ngày xanh
Kiếp hoa ngắn ngủi
Mưa gió tan tành
Nguyệt đan mành
Hoa tàn tạ
Cảnh bâng khuâng
Yêu nhau không trọn
Đời bạc như vôi
Tình xưa ai đã phụ rồi
Người xưa như thế thì thôi còn gì
Mối tình si – lệ lâm ly
Thà rằng quen biết nhau chi
Biết nhau như thế ước gì mà mong

Ôi tiếng đàn câu ca như xé tâm can. Trác Văn Quân gọi tỳ nữ Thanh Mai vào thơ phòng, hỏi:

– Tiếng đàn của ai bên sông sao nghe buồn bã quá, lòng ta xao động khôn cùng. Người hãy sang sông tìm thử ai đang réo rắt tiếng tơ trùng này.

Đêm đã khuya, nhưng may con ánh trăng vằng vặc. Thanh Mai vâng lời chủ, gọi đò sang sông. Cô lái đò giải thích cho Thanh Mai:

– Có chàng trai từ phương xa đến đây tên là Tư Mã Tương Như Trường Khanh. Chàng có khúc nhạc mê hồn Phượng Cầu Hoàng, đàn bà con gái không sao cưỡng lại sức quyến rũ, mê mẩn khi nghe khúc nhạc này.

Thanh Mai chỉ hiểu mơ hồ lời giải thích của cô lái đò và tìm đến gần phía trang viên. Bên trong thấp thoáng nhiều bóng hồng đang đùa cợt lả lơi quanh một chàng trai trẻ đẹp. Sửng sờ, cô tỳ nữ bị chôn cứng chân đến gần tảng sáng mới lần bướ ra về, thưa chuyện cho cô chủ:

– Em đã tìm đến trang viên… Ở đó có vườn hoa đẹp, có chàng trai tên là Trường Khanh, có tiếng đàn làm mê hoặc đàn bà con gái khắp vùng này.

Trác Văn Quân bỗng hở dài, nét hoa thêm phần ủ dột, thảo nào, lòng tạ. Suốt ngày hôm đó, nàng ngồi câm nín bên lan can, vành khăn tang trễ xuống ngang vai, khói hương bàn thờ chồng cũng tắt ngấm. Rồi ngày một ngày hai, tiếng đàn sao im bặt… Qua đêm thứ ba, Văn Quân không dìm được nỗi lòng, gọi Thanh Mai vào:

– Đã hai đêm ta không nghe được tiếng đàn, trong người khó thở. Người hãy tìm đến chàng, trao thư này cho tạ Thanh Mai ngập ngừng can ngăn:

– Tiểu thư chưa quen biết, sao lại trao thơ cho người lạ, lệnh lang cũng vừa mệnh chung…

Văn Quân như mất hồn, ừ thì thôi vậy, nếu người không trao thư cho ta, thì hãy đưa ta đến tìm gặp người đó. Nói xong, vội vàng Văn Quân cởi bỏ tang phục, ăn mặc cực kỳ diêm dúa, kéo xệch Thanh Mai xuống đò, sang ngang. Gần đến trang thanh viên, Văn Quan hối hả bước vội. Nhưng khi đến gần, được Thanh Mai chỉ cho trông thấy dung mạo người trong mộng, Văn Quân bỗng thẹn thùng, on người đàn bà đoan chính, một thoáng chốc… Nàng run rẩy quay gót chạy trở về. Tràng Khanh cũng biết có nguời đang nhìn trộm mình rồi bỏ chạy, nhưng vướng víu các kiều nữ đang quấn chặt lấy mình, nên không theo đuổi kịp. Sau đó, tuy trễ một chuyến đò, Tràng Khanh cũng tìm đến được bên ngoài phủ quan, biết ngươì thiếu phụ là Trác Văn Quân, góa phụ trẻ đẹp tuyệt tác trần gian. Tràng Khanh nghĩ, ta sẽ có nàng.

Trác Văn Quân về đến thơ phong, vất bỏ xiêm ỵ mặc lại tang phục, đến ngồi lặng yên bên bàn thờ chồng. Nửa đêm về sáng, bỗng tiếng đàn lại vọng lên. Ôi nó réo rắt mời gọị Người góa phụ cố bịt kín lấy đôi tai, nhưng âm thanh lại càng xoáy vào hồn. Nàng dẫy dụa trong dằn vặt nhưng thôi, ánh trăng mờ dần… Nàng thẩn thờ đứng dậy, lại cởi bỏ tang phục, thay đổi xiêm y sặc sỡ, nhanh bước ra bờ sông. Khi đã đưa nàng sang bên kia bờ, cô lái đò hỏi:

– Thưa bà, tiện nữ sẽ đợi đến bao giờ để đưa bà về.

– Không, đừng hoài công chờ đợi. Ta đã vào khúc Phượng Cầu, e không có ngày trở lại.

Sau này, đôi trai gái đó mở một quán nấu rượu. Vợ chồng cùng cặm cụi làm ăn.

Sau Hán Vũ Đế đọc bài “Tử hư phú” của Tương Như, khen tài mới vời vào triều, ban chức tước. Lại sai chàng cầm cờ tiết, thay nhà vua về Ba Thục chiêu an bọn phụ lão tùng phục nhà Hán. Lần này thỏa chí bình sinh, Tương Như áo gấm vinh quy được người đón rước long trọng. Nhưng làm quan ít lâu, lại chán, cáo bịnh lui về quê.

Trong “Bích Câu kỳ ngộ” có câu:

Cầu hoàng tay lựa nên vần,
Tương Như lòng ấy, Văn Quân lòng nào.

Và, trong “Đoạn trường tân thanh” của Nguyễn Du cũng có câu:

Khúc đâu Tư Mã phượng cầu,
Nghe ra như oán, như sầu phải chăng!

là đều do điển tích trên.

6. Ban Chiêu

Ban Chiêu sinh vào thời Đông Hán Trung Quốc cách đây hơn 2000 năm, còn gọi là Ban Phi, bà xuất thân trong một gia tộc nổi tiếng, rất có tài hoa về văn học. Cha tên là Ban Bưu là nhà văn nổi tiếng Trung Quốc thời bấy giờ, Ban Chiêu thưởng được mời vào Hoàng cung để dạy kinh sử cho hoàng hậu và các quý nhân trong cung đình. Năm 14 tuổi, Ban Tiêu gả cho Tào Thế Thúc, tổ ấm của đôi vợ chồng trẻ này rất hạnh phúc.

Tài khiếu viết văn của Ban Chiêu trước hết thể hiện trong quá trình giúp anh trai tên là Ban Cố viết cuốn “Tiền Hán Thư”, đây là cuốn sử đoạn đại mang thể loại ký truyện đầu tiên của Trung Quốc, có địa vị ngang hàng với cuốn “Sử Ký” của Tư Mã Thiên thời Tây Hán trên lịch sử. Cha của Ban Chiêu là người đầu tiên bắt tay vào việc viết bộ sử này, sau khi cha qua đời, anh trai Ban Chiêu tên là Ban Cố tiếp tục hoàn thành việc này, không ngờ Ban Cố bị một vụ án làm iên lụy rồi bị chết trong ngục. Trước kia Ban Chiêu cũng tham gia vào cả quá trình viết bộ sử này, sau khi cha và anh trai qua đời, bà tiếp tục nối nghiệp cha anh, cho mãi đến khi hoàn bộ sách này. Sau khi bộ “Tiền Hán Thư” cho xuất bản, đã được sự đánh giá rất cao. Chương gay cấn nhất trong “Tiền Hán Thư” là bảng thứ 7 “Bảng bách quan công khanh” và chí thứ 6 “Thiên văn chí”, hai bộ phận này về sau đều do Ban Chiêu hoàn thành.

Học thức của Ban Chiêu hết sức tinh túy, để cầu được sự chỉ dẫn của Ban Chiêu, nhà học giả lớn hồi bấy giờ tên là Mã Dung đã phải quỳ ở bên ngoài thư viện đọc sách của Ban Chiêu để lắng nghe bà giảng giải.

Ban Chiêu có một người em trai tên là Ban Siêu, chàng cũng là một người viết văn, về sau gác bút ra trận, lập nên nhiều chiến công lẫy lừng, và được phong làm Định Viễn Hậu, khiến nhà Hán lừng danh khắp Trung Á và Tây Á suốt 30 năm. Năm thứ 12 Vĩnh Nguyên thời Hán Hoà Đế, Ban Siêu đã cao tuổi, ông nhờ con trai đến Lạc Dương để chầu chương vua, bày tỏ mong muốn được trở về quê hương để hưởng những năm cuối đời về già. Thế nhưng trong suốt ba năm liền nhà vua không hề đoái hoài đến nguyên vọng của Ban Siêu. Nghĩ đến người anh trai của mình Ban Cố đã qua đời, Ban Chiêu hết sức thương cảm trước tâm trạng của Ban Siêu đã hơn thất thập mà còn phải sống trên đất khách quê người, quyết định bất chấp hết thảy đi thuyết phục hộ cho Ban Siêu.

Thế là Ban Chiêu trình thư lên vua, trong thư Ban Siêu dẫn lại nhiều điển tích, ám thị nhà vua nên thương hại cho người em trai mình đã tuổi cao sức yếu muốn trở về quê nhà, bài viết của Ban Chiêu có tình có lý, vua đọc xong cũng phải động lòng. Không bao lâu, nhà vua liền cử một vị đại tướng thay thế Ban Siêu. Chính vài viết của Ban Chiêu đã thuyết phục nhà vua cho phép Ban Siêu rời khỏi triều đình.

Tài viết văn của Ban Chiêu còn thể hiện trong bài số 7 mang tựa đề “Nữ giới”. Bài viết này chủ yếu nói lên phụ nữ con gái nên ăn nói đi đứng như thế nào, nên sử lý công việc quan hệ gia đình ra làm sao, bài viết này của Ban Chiêu vốn là cuốn giáo khoa gia giáo riêng của gia đình mình để khuyên răn con gái gia tộc họ Ban, không ngờ về sau bài viết này được truyền tay chép trong khắp Kinh thành, rồi sau nữa truyền ra và nổi tiếng khắp cả nước.

Ban Chiêu chủ yếu sống trong thời Hán Hoà Đế, về sau nhà vua băng hà, vua mới lên nối ngôi lại ít tuổi, thái hậu bèn ra triều sử lý việc nước. Ban Chiêu được tôn làm sư phụ tham gia vào các công việc triều đình, bà hết lòng trung hiếu, dốc hết tài trí của mình cho đất nước. Về sau Ban Chiêu tuổi cao sức yếu rồi qua đời, Thái Hậu liền mặc áo đơn sơ để tưởng niệm và làm lễ quốc táng để tiễn đưa bà đến nơi an nghỉ cuối cùng.

Ban Chiêu là một người phụ nữ tài ba, học vấn uyên bác, phẩm chất cao thượng, bà không những là một nhà sử học, nhà văn học mà còn là một nhà chính trị nổi tiếng thời cổ Trung Quốc.

7. Thái Diễm

Thái Diễm cũng gọi là Thái Văn Cơ, một nữ sĩ tài hoa đời Tam Quốc (220-264). Cha nàng là Thái Ung, có tài thẩm âm vào bực nhứt cổ kim. Tương truyền, thấy một người chụm củi, ông bảo: “Tôi nghe tiếng củi đó nổ, biết là củi tốt, sao đem chụm cho uổng”. Ông xin khúc củi về, làm một cây đàn, tiếng rất trong.

Nàng Thái Diễm lên 8 đã giỏi đàn. Có chồng là Vệ Đạo Giới nhưng lại góa chồng sớm, không con. Đương lúc Đổng Trác nổi loạn, nàng bị rợ phương bắc bắt về đất Phiên, phải sống tủi nhục ở với Hung Nô. Nàng nhớ quê hương, mới làm ra 18 khúc kèn rợ Hồ. Những bản nhạc này truyền vào Trung Nguyên. Tào Tháo là chúa nước Ngụy, trước vốn là bạn thân của cha nàng, nay lại thưởng thức bản nhạc, động lòng thương xót, mới sai người đem ngàn lượng vàng lên phương bắc chuộc nàng về.

Vua đất Hồ là Tả Hiền vương vốn sợ uy thế của Tào Tháo phải cho người đưa nàng về Hán. Tháo lại đứng làm chủ gả nàng cho Đổng Kỷ.

Một hôm, Tào Tháo đem quân đánh Lưu Bị, tiện đường ghé thăm. Đổng Kỷ làm quan xa chỉ có nàng ở nhà. Nghe tin Tháo đến, nàng vội ra rước vào. Tháo ngồi trên sập, nàng thi lễ xong chắp tay đứng hầu bên. Tháo nhìn lên vách, chợt thấy một tấm bìa treo, có ghi bài văn bia, bèn đứng dậy bước đến xem và hỏi nguồn gốc. Thái Diễm thưa:

– Đây là bài văn bia đề một nàng Tào Nga. Xưa đời Hòa Đế, ở vùng Thượng Ngu có một người đồng bóng tên Tào Vu, hay lên đồng nhảy múa. Một hôm vào ngày mồng 5 tháng 5, Vu say rượu, đứng múa may trên thuyền, sẩy chân té xuống sông chết. Cô con gái của Vu vừa lên 14 tuổi, quá thương cha, cứ đi dọc bờ sông kêu khóc suốt 7 ngày đêm, rồi nhảy xuống nước mất tích. Qua 5 ngày sau, bỗng thấy nàng đội xác cha nổi lên mặt sông. Người trong làng vớt xác cả hai chôn cất. Quan huyện Thượng Ngu là Đỗ Thượng tâu việc ấy về triều. Triều đình khen nàng Tào Nga là gái hiếu, truyền cho lập bia. Đỗ Thượng lại sai Hàn Đan Thuần làm bài văn khắc vào bia để ghi lại việc ấy. Hàn Đan Thuần bấy giờ mới 13 tuổi, cầm bút viếc ngay một hơi thành bài văn, chẳng phải sửa chữa một chữ. Đỗ Thượng chịu là hay, cho khắc vào bia dựng bên mộ nàng Tào Nga. Thời bấy giờ, ai đọc cũng lấy làm lạ. Tiếng văn hay đồn dậy xa gần… Phụ thân thiếp nghe tiếng cũng tìm đến xem, gặp lúc trời tối, không nhìn thấy chữ, phải sờ vào bia, lần từ nét mà đọc. Đọc xong, người lấy bút viết 8 chữ lớn vào sau lưng bia. Về sau, có người khắc cả 8 chữ vào đấy.

Tào Tháo thấy 8 chữ ấy cũng ghi trên bức bia, bên cạnh bài văn như sau: “Hoàng quyến, ấu phụ, ngoại tôn, tê cửu”.
Tháo hỏi Diễm:
– Nhà ngươi có hiểu ý nghĩa 8 chữ này không?
Nàng thưa:
– Tuy là di bút của cha, nhưng thú thật thiếp cũng hiểu ý nghĩa ra sao.
Tháo quay lại hỏi các mưu sĩ, mọi người đều chịu không biết. Bấy giờ có quan Chủ bạ là Dương Tu lên tiếng:
– Tôi hiểu ra rồi.
Tu giải:
– Tám chữ đó là ẩn ngữ của Thái Ung. “Hoàng quyến” là lụa màu vàng, tức là màu sắc của tơ (ti sắc), chữ “ti” với chữ “sắc” hợp lại thành chữ “tuyệt”. “Ấu phụ” nghĩa là con gái còn nhỏ, tức là “thiếu nữ”. Chữ “thiếu” đứng bên chữ “nữ” hợp thành chữ “diệu”. “Ngoại tôn” là cháu ngoại. Cháu ngoại tức là đứa con của con gái mình (nữ nhi tử). Chữ “nữ” chắp với chữ “tử” thành chữ “hảo”. “Tê cửu” là cái cối giã hành tỏi. Cái cối là vật chịu cay (thụ tân). Chữ “thụ” đặt bên chữ “tân” thành chữ “từ”. Tóm lại, đó là ẩn chữ “Tuyệt diệu hảo từ”, tức Thái Ung đã hết lời khen tặng văn chương của Hàn Đan Thuần vậy.

8. Tạ Đạo Uẩn

Cháu gái Tạ An, người xuất hiện trong điển “Vịnh Nhứ Tài”. Tác phẩm tiêu biểu : “Đăng Sơn”
Nga nga đông nhạc cao,
Tú cực xung thanh thiên.
Nham trung gian hư vũ,
Tịch mịch u dĩ huyền.
Phi công phục khí tượng,
Vân cấu thành tự nhiên.
Khí tượng nhĩ hà nhiên ?
Toại lệnh ngã lâu thiên.
Thệ tướng trạch tư vũ,
Khả dĩ tận thiên niên.

9. Võ Tắc Thiên

Nữ hoàng Võ Tắc Thiên đại đế (624 – 705), cổ vãng kim lai duy chỉ có 1 người này. Võ Tắc Thiên là nữ hoàng duy nhất trong lịch sử Trung Quốc. Cũng có các tiểu nữ hoàng khác từng ngồi trên bảo tọa của hoàng đế, nhưng các quan điểm hiện nay chỉ xem Võ Tắc Thiên là nữ hoàng duy nhất, bởi vì bà lên ngôi hoàng đế bằng chính thực lực của bản thân, không phải là tượng gỗ nghe theo sự điều khiển của kẻ khác.

10. Thượng Quan Uyển Nhi

Cháu gái Thượng Quan Nghị, hiệu xưng là Cân Quốc Thủ Tướng đầu tiên. Thời Đường Cao Tông, cháu gái tể tướng Thượng Quan Nghị là Thượng Quan Uyển Nhi, thông thuộc thi thư, không những biết ngâm thơ viết văn mà còn hiểu biết chuyện xưa nay, thông minh mẫn tiệp dị thường.

11. Ban Tiệp Dư

Ban Tiệp Dư là con nhà danh môn, còn trẻ đã học thành tài, thời Hán Thành Đế được lập làm Tiệp Dư. Chị em Triệu Phi Yến sau khi đắc sủng, ganh ghét tài năng phẩm hạnh của Ban Tiệp Dư, Ban Tiệp Dư ngày đêm lo sợ nên xin theo hầu thái hậu ở cung Trường Tín. Có thể bài “Đoàn Phiến Thi” được sáng tác tại cung Trường Tín, bài thơ nhỏ này dùng từ thái mới mẻ, tình như ai oán, biểu hiện thật ủy uyển hàm súc, có một loại khí độ oán mà không giận .

Đoàn Phiến Thi

Tân liệt tề hoàn tố, tiên khiết như sương tuyết.
Tài vi hợp hoan phiến, đoàn đoàn tự minh nguyệt.
Xất nhập quân hoài tụ, động dao vi phong phát.
Thường khủng thu tiết chí, lương tiêu đoạt viêm nhiệt.
Khí quyên khiếp tứ trung, ân tình trung đạo tuyệt
12. Chân Hoàng Hậu

Sau khi Tào Phi xưng đế, sủng hạnh Quách hoàng hậu, Quách hậu cậy đắc sủng nên gièm pha Chân hoàng hậu, từ đó Chân hoàn hậu thất sủng. Sau khi bị vua bỏ lơ không nói đến, từ “Đường Thượng Hành” có thể đọc thấy được lòng tương tư cực chí của một người vợ đối với trượng phu, một lòng thâm tình vô hối. Sự chờ đợi của Chân hoàng hậu đáng thương cuối cùng chỉ là một tờ giấy chết của Tào Phi. Thậm chí sau khi chết, thi thể phải lấy tóc che mặt, lấy trấu lấp miệng, chịu nỗi khổ vũ nhục và lăng ngược.

Đường Thượng Hành
Bồ sinh ngã trì trung, kỳ diệp hà li li.
Bàng năng hành nhân nghĩa, mạc nhược tiếp tự tri.
Chúng khẩu thước hoàng kim, sử quân sinh biệt li.
Niệm quân khứ ngã thời, độc sầu thường khổ bi.
Tưởng kiến quân nhan sắc, cảm kết thương tâm ti.
Niệm quân thường khổ bi, dạ dạ bất năng mị.

13. Hoa Nhị Phu Nhân

Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn từng ngưỡng mộ tài danh của Hoa Nhị Phu Nhân. Hoa Nhị Phu Nhân là Phí Quý Phi của Hậu Thục Hậu Chủ – Mạnh Xưởng, xuất thân là 1 ca kỹ ở Thanh Thành (nay ở phía Đông Nam thành phố Giang Yển). Tương truyền “Hoa Nhị Phu Nhân Cung Từ” có hơn 100 biến, trong đó thật ra chỉ có hơn 90 biến. Khi Tống diệt Hậu Thục, chỉ dùng có 1 vạn quân, 14 vạn quân Hậu Thục không chiến mà hàng, Hoa Nhị Phu Nhân theo Mạnh Xưởng lưu vong về phương bắc, đêm nghỉ ở Gia Minh dịch trạm, cảm hoài nỗi buồn nước mất nhà tan, đề lên vách quán bài “Thái Tang Tử”. Nhưng vì quân kỵ thôi thúc nên bị mất hết một nửa, cứ viết được 1 chữ lại rơi lệ.

Thái Tang Tử
Sơ li thục đạo tâm tướng toái,
Li hận miên miên.
Xuân nhật như niên,
Mã thượng thời thời văn đỗ quyên.

14. Hầu Phu Nhân

Tùy Dương Đế Dương Quảng tại vị, quảng cáo cao lâu, bắt hàng ngàn thiên hạ mỹ nữ nhốt vào trong đó, Hầu Phu Nhân chính là 1 trong số hàng ngàn cung nữ đó mà suốt cả cuộc đời cũng chưa hề gặp được Tùy Dương Đế, cuối cùng tự ải mà chết.

15. Tiết Đào

Nữ thi nhân thời Đường, người gọi là Nữ Hiệu Thư, từng xướng họa cùng thi nhân nổi tiếng đương thời Nguyên Trẩn, thực lực không thua kém. Tác phẩm tiêu biểu : Ngô Đồng Thi (làm khi mới 8 tuổi)

Đình trừ nhất cổ đồng,
Tủng cán nhập vân trung,
Chi nghênh nam bắc điểu,
Diệp tống vãng lai phong.

Tiết Đào (770-832), tự Hồng Độ. Cha Tiết Vân là một viên tiểu lại ở kinh đô, sau loạn An Sử dời đến ở Thành Đô, Tiết Đào sinh vào năm thứ 3 Đại Lịch thời Đường Đại Tông. Lúc còn nhỏ đã thể hiện rõ thiên phú hơn người, 8 tuổi đã có thể làm thơ, cha từng ra đề “Vịnh Ngô Đồng”, ngâm được 2 câu “Đình trừ nhất cổ đồng, tủng cán nhập vân trung”; Tiết Đào ứng thanh đối ngay : “Chi nghênh nam bắc điểu, diệp tống vãng lai phong”. Câu đối của Tiết Đào như dự đoán trước mệnh vận cả đời của nàng. Lúc 14 tuổi, Tiết Vân qua đời, Tiết Đào cùng mẹ là Bùi Thị nương tựa nhau mà sống. Vì sinh kế, Tiết Đào bằng dung mạo và tài năng hơn người tinh thi văn, thông âm luật của mình bắt đầu đến các nơi ăn chơi hoan lạc, rót rượu, phú thi, đàn xướng hầu khách nên bị gọi là “Thi Kỹ”.

Thời Đường Đức Tông, triều đình mời Trung thư lệnh Vĩ Cao làm Tiết độ sứ Kiếm Nam, thống lược Tây Nam, Vĩ Cao là một quan viên nho nhã cũng có tài thơ văn, ông nghe nói về tài năng xuất chúng của Tiết Đào mà còn là hậu nhân của quan chức triều đình, liền phá lệ mời nàng dùng thân phận nhạc kỹ đến Soái Phủ đãi yến phú thi, Tiết Đào trở thành Doanh Kỹ nổi tiếng ở Thành Đô (Nhạc kỹ chính thường được mời đến các cuộc vui chơi của võ quan trấn thủ các nơi). Sau 1 năm, Vĩ Cao mến tài Tiết Đào, chuẩn bị tấu xin triều đình để Tiết Đào đảm nhiệm quan chức Hiệu Thư Lang, tuy chưa kịp thực hiện nhưng danh hiệu “Nữ Hiệu Thư” đã không kính mà đến, đồng thời Tiết Đào cũng được gọi là “Phụ Mi Tài Tử”. Về sau, Vĩ Cao vì trấn thủ biên cương có công nên được phong làm Nam Khang Quận Vương, rời khỏi Thành Đô. Lý Đức Dụ tiếp nhiệm Kiếm Nam Tiết Độ Sứ cũng rất ngưỡng mộ tài năng của Tiết Đào. Trong suốt cuộc đời của Tiết Đào, Kiếm Nam Tiết Độ Sứ tổng cộng có 11 người thay phiên đảm nhiệm, người nào cũng vô cùng thanh lãi và kính trọng nàng, địa vị của nàng đã vượt xa một tuyệt sắc hồng kỹ tầm thường.

16. Chu Thục Chân

Nữ từ nhân nổi tiếng thời Đường, hiệu xưng U Thê Cư Sĩ, được biết là một tài nữ người ở Tiền Đường thời Tống, thi từ đều giỏi, đương thời chỉ có nàng mới xứng tề danh với Lý Thanh Chiếu. Tác phẩm tiêu biểu có “Đoạn Trường Tập” và “Đoạn Trường Từ” được lưu truyền, nổi tiếng nhất là “Điệp Luyến Hoa”.

Chu Thục Chân có cuộc đời khá u sầu. Nguyên nàng có một ý trung nhân lý tưởng, cũng là người tài hoa mà nàng tự quen biết. Nhưng phụ mẫu không cho phép nàng kết hôn với ý trung nhân của mình, mà gả nàng cho 1 thương nhân. Chồng nàng là người chỉ biết kiếm tiền, đối với thi từ và tranh vẽ của nàng đều không có hứng thú, vì vậy mà cuộc sống của nàng lúc nào cũng đầy u sầu và tẻ nhạt.

17. Quách Ái

Vì sự ích kỷ của các đời đế vương, quảng thúc mỹ nữ, nhốt trong hậu cung đã làm hại thanh xuân, hạnh phúc và tính mệnh của biết bao thiếu nữ. Nếu có kiếp sau, chắc chắn họ sẽ hy vọng được gả vào một nhà bình thường, trên còn phụ mẫu, dưới có nhi nữ, họ cũng cam tâm tình nguyện đắm chìm trong ngọn lửa yêu thương của thê chức mẫu chức trên nhân gian, tháng năm dần qua cho đến một ngày kia họ lạc hạ hoàng tuyền, tức là kiếp này đã dứt.

18. Liễu Như Thị

Tài nữ nổi tiếng thời Đường, đứng đầu Tần Hoài Bát Diễm, từng chiết chiêu võ công với 2 thi nhân nổi tiếng đương thời là Trần Tử Long, Tiền Khiêm Ích ; làm rạng danh quần thư, không nhượng phe tu mi.

19. Lý Sư Sư

Tư  ái của Tống Huy Tông (bồ nhí).
(NM: Rất nổi tiếng trong tác phẩm Thủy Hử. Nghe đâu là người yêu của Lãng Tử Yến Thanh )

20. Trần Viên Viên

Trần Viên Viên là mỹ nhân đã gián tiếp khiến giang sơn Trung Hoa rơi vào tay giặc Thát từ quan ngoại.
Nghe nói do Ngô Tam Quế hận không lấy được nàng, đã dẫn quân Thanh vào cửa quan, để dành lại người đẹp. Vì vậy không phải do nàng trực tiếp gây ra cảnh sinh linh đồ thán đó, nhưng vẫn bị người của mấy đời sau phỉ nhổ.

21. Lý Thanh Chiếu

Lý Thanh Chiếu, hiệu “Dịch An Cư Sĩ”, người Sơn Đông – Lịch Thành thời Tống (nay là Sơn Đông – Tế Nam). Cha là Lý Cách Phi, làm quan đến Lễ Bộ Viên Ngoại Lang, một người học vấn uyên bác. Mẹ là Vương Thị, cũng là một người biết thơ văn. Lý Thanh Chiếu được cha dạy ngâm thơ, viết từ và tản văn từ nhỏ. 18 tuổi được gả cho Triệu Minh Thành, cũng là một người có học vấn. 2 vợ chồng cùng sinh hoạt, cùng học tập, cuộc sống rất tình thú. Khi quân Kim diệt Tống, vợ chồng Lý Thanh Chiếu chạy xuống phương nam lánh nạn. Năm 1129, Triệu Minh Thành được phái đến Hồ Châu nhậm chức, đi đến Kiến Khang thì qua đời, Lý Thanh Chiếu phải bôn ba đến Chiết Giang nương nhờ em trai là Lý Kháng. Về sau cùng với Lý Kháng phiêu bạc qua Việt Châu, Đài Châu, Hàng Châu và Kim Hoa.
Sinh đang tác nhân kiệt, tử diệc vi quỷ hùng.
Chí kim tư Hạng Vũ, bất khẳng quá Giang Đông.

22. Tả Phấn

Tấn Vũ Đế Tư Mã Viêm nghe tiếng em gái thi nhân Tả Tư là Tả Phấn có tài năng hơn người nên lập tức tuyển vào cung, Tả Phấn vì tài đức siêu quần nên ngày ngày được đế vương cùng quần thần tán thưởng, được phong làm người coi giữ hậu cung. Hiềm nổi ngư sắc hoang đường Tư Mã Viêm là một trong số các đế vương vô sỉ vô vi của lịch sử, Tả Phấn được phong là Quý Phi, bất quá là do Tư Mã Viêm vì cái hư danh trọng hiền đãi sĩ, trong “Tấn Thư” gọi Tả Phấn là “Tư lậu thể luy, thường cư bạc thất” (thân thể gầy yếu, ở nhà đạm bạc). “Trác Mộc Thi” là tác phẩm mà trong đó, Tả Phấn tả lại cuộc sống đạm bạc của mình.

23. Hoàng Nga

Là nữ văn học gia thời nhà Minh, tự Tú Mi, người tỉnh Tứ Xuyên. Hoàng Nga, Hoa Nhị Phu Nhân, Tiết Đào, Trác Văn Quân còn được gọi chung là Thục trung Tứ Đại Tài Nữ. Hoàng Nga làu thông kinh sử, nhiều phen khiến chồng là Trạng nguyên Dương Thận cũng phải bái phục mà khen nàng rằng “Nữ Khổng Tử”.

24. Vệ Tử Phu

Vệ Hoàng Hậu, vốn chỉ là một cung nữ nhưng nhờ tài đức, nàng được Hán Vũ Đế phong làm Hoàng Hậu. Vệ Hoàng hậu có vài tro lớn trong việc cai trị đất nước của Hán Vũ Đế. Sau khi thái tử Lưu Cứ và công chúa Vệ Trưởng chết. Cuộc đời đau đớn của bà cũng chấm dứt.
Vệ Tử Phu nổi tiếng khắp thiên hạ vì mái tóc đen và đẹp.

25. Ngư Huyền Cơ (Lý Huyền Cố)

Ngư Huyền Cơ 魚玄機 (844-868) tự Ấu Vi 幼微 và Huệ Lan 蕙蘭, là danh kỹ đất Trường An đời Vãn Đường, sau xuất gia làm đạo sĩ. Thân thế của nàng chưa thực sự rõ ràng. Tiểu truyện trong “Toàn Đường thi” chép nàng là thiếp của quan Bổ khuyết Lý Ức 李億, khi không được sủng ái bèn xuất gia ở Hàm Nghi quán và giao du xướng hoạ với các danh sĩ đương thời, sau vì giết hại nữ tỳ Lục Kiều 綠翹 nên bị Kinh Triệu doãn là Ôn Chương 溫璋 xử chết khi chưa đầy ba mươi tuổi.

Thơ nàng có danh cú thiên cổ lưu truyền “Dị đắc vô giá bảo, Nan mại hữu tình lang” 易得無價寶,難買有情郎 (Dễ có được bảo vật vô giá, Khó mua được người chồng có tình cảm).

26. Đổng Ngạc Phi

Người thân yêu nhất của Thuận Trị Ðế, cái chết của bà đến nay vẫn là một kì án của triều Đại Thanh ko có lời giải đáp. Sau khi bà mất THuận Trị bỏ đi tu, để lại đất nước cho cậu bé Khang Hi và cũng mở ra một trong những trang sử huy hoàng nhất của Đại Thanh triều.

27. Hồng Phất Nữ

Phong trần tam hiệp – Trương Hồng Phất, ái thê của Lý Tịnh, một cô gái thông minh và giản dị.

28. Chương Đức Đậu

Đậu Thái Hậu. Chương Đức Đậu là hoàng thái hậu của đời Đông Hán,  là một vị hòang hậu xen vào trong chuyên triều chính. Bà ta rất đẹp nhưng rất thủ đọan.

29. Đặng Tuy

Hán Hoà Hy thái hậu. Giống như Đậu Thái Hậu, Đặng Tuy là một trong những thái hậu làm bình ổn vương triều Đông Hán. Tuy nhiên cũng theo gót Đậu Thái Hậu, bà liên tiếp giết nhiều người để giữ vững địa vị cho mình. Kết cục là cả nhà bị chu di cửu tộc, bà cũng bị bức ép chết như Đậu Thái Hậu. Sau này, gia tộc họ Đặng mới được phục hồi danh dự.

30. Lý Hương Quân

Danh kỹ trên sông Tần Hoài là Lý Hương Quân, bên mình lúc nào cũng mang một chiếc quạt lụa, mặt quạt làm bằng tơ lụa trắng tinh, trên mặt vẽ một bức vẽ hoa đào, sắc thái đậm đà đẹp đẽ, do đó gọi là “quạt hoa đào” (Đào hoa phiến). Bức vẽ trên chiếc quạt ấy tuyệt nhiên không phải do tay danh gia nào vẽ, vậy vì sao Lý Hương Quân lại xem đó như một vật quý giá vô cùng? Vốn là hoa đào vẽ trên mặt quạt ấy, không phải vẽ bằng chất liệu vẽ bình thường, mà là máu tươi của Lý Hương Quân đổ ra vẽ thành, ngưng kết trên mặt quạt ấy là câu chuyện tình ai diễm triền miên giữa nàng và tình lang Hầu Phương Vực,và cũng là toàn bộ ước nguyện của nàng ở kiếp này.

Lý Hương Quân là kỹ nữ trong Mỵ Hương Lâu bên bờ sông Tần Hoài, Mỵ Hương Lâu được xây dựng cực kỳ tinh xảo, đứng soi bóng xuống dòng nước, đứng trên lầu tựa lan can nhìn ngắm, thấy khói nước xanh biếc, thâu vào tầm mắt bao nhiêu là họa thuyền rực rỡ như dệt lụa trên sông Tần Hoài. Chủ nhân của Mỵ Hương Lâu là Lý Đại Nương, thuở còn trẻ bà cũng là kỹ nữ bên sông Tần Hoài, sau khi lớn tuổi, liền dùng tài sản tích góp được xây dựng nên tòa Mỵ Hương Lâu này, thu nhận và nuôi dưỡng bao nhiêu là con gái, dùng thơ rượu ca múa để tiếp khách, trong thành Nam Kinh cũng có một chút danh tiếng. Gương mặt đáng kể nhất chống giữ cho Mỵ Hương Lâu chính là Lý Hương Quân. Cô nương này từ nhỏ đã lớn lên bên cạnh Lý Đại Nương, làm thơ, đọc sách, gảy đàn, vẽ tranh, ca múa, đều được Lý Đại Nương dạy bảo kỹ lưỡng rành rẽ, về tính tình cũng học được nét hào sảng hiệp nghĩa của Lý Đại Nương, thật là khiến cho mọi người đều thương mến. Nhưng nói khi Lý Hương Quân lớn lên rồi, lại có nét riêng của nàng, dáng người nàng xinh tươi nhỏ nhắn, mềm mại lung linh, đầu mày cuối mắt đều xinh đẹp diễm lệ, miệng nhỏ môi nhạt, vẻ bề ngoài biết bao xinh đẹp, từng ly từng tí đều đáng là kiểu mẫu. Nhân nàng yêu kiều nhỏ nhắn mà xinh đẹp thơm tho, nên trong tên mới mang một chữ “hương”, do đó các khách khứa đều gọi đùa nàng là “hương phiến trụy” (tua quạt thơm), lại đúng hợp với phong thái và mùi thơm của nàng.

31. Triệu Phi Yến

Hán Thành Đế hoàng hậu. Giỏi ca múa, thân hình nhỏ gọn, nhẹ như chim yến, tương truyền có thể đứng trong lòng bàn tay mà múa nên gọi là “Phi Yến”. Nhập cung thời Thành Đế cùng với Ban Tiệp Dư, sau được lập làm hoàng hậu.Trong cung,Triệu Phi Yến cùng với người em Triệu Hợp Đức hết sức lộng hành,giết rất nhiều người vô tội như Hứa Hoàng Hậu,Hứa Quí Nhân.Còn giở trò đe dọa Ban Tiệp Dư.Giết chết tiểu Thái Tử.

Tày đình hơn là công khai hoang dâm trước bàn dân thiên hạ để hòng có con.Nhưng cuối cùng vẫn ko thể có con được.

Khi Bình Đế tức vị, bị phế làm thứ dân, tự sát mà chết.

(Bonus thêm vài người nữa :D)

32. Muội Hỷ (Tam Đại Mỹ Nhân thời thượng cổ)

Muội Hỷ là con dân nước Hữu thi, 1 nước nhỏ ở biên viễn. Do đánh thua vua Kiệt nhà Hạ (thế kỷ 21 đến thế kỷ 17 trước CN) nên vua nước Hữu Thi phải nộp người con gái đẹp là Muội Hỷ để xin giảng hòa. Với 1 sắc đẹp hiếm có cộng với khả năng quyến rũ lạ thường, Muội Hỷ khiến Kiệt suốt ngày phải bám lấy gấu váy của ả, không lo gì chính sự.

33. Tô Đắc Kỷ (Tam Đại Mỹ Nhân thời thượng cổ)

Dat Ky

Là con gái vua nước Tô, họ Kỷ. Đát là cách gọi người con gái đẹp, theo thói quen ngày nay thì gọi là Kỷ Đát nhưng người đương thời lại gọi là Đát Kỷ hay Tô Đát Kỷ

Cũng như Muội Hỷ, Đát Kỷ được đưa sang nhà Ân để cầu hòa. Trước kia Hạ Kiệt và Muội Hỷ phát minh ra “Tửu trì”, Trụ vương và Đát Kỷ đương nhiên kế thừa và phát huy thành đại qui mô. Bên cạnh “tửu trì” lại tạo thêm 1 “nhục lâm” (rừng thịt). Rừng thịt này là 1 cánh rừng mà trên các cành cây treo đầy thịt đã chế biến, đi dưới cánh rừng ấy có thể tùy ý ăn thịt ở khắp nơi, phối hợp với 3000 người “trâu uống rượu” ở tửu trì theo nhịp trống. Nhưng sự thưởng thức tấn tuồng ngoạn mục này của Trụ Vương-Đát Kỷ “tiến bộ” hơn nhiều so với Hạ Kiệt-Muội Hỷ: hạ lệnh cho hàng ngàn người, nửa trai nửa gái, không vướng 1 chút quần áo nào, đuổi nhau như đàn ong trong rừng vừa ăn thịt vừa uống rượu ở tửu trì, lại còn mượn tửu hứng mà từng đôi từng đôi làm tình với nhau. Trụ Vương và Đát Kỷ vừa uống rượu vừa thưởng thức, có khi còn chạy lại gần xem cho đã. Trụ Vương còn xây cung: “Lộc Đài” vuông mỗi bên 3 dặm, cao ngàn thước, qui mô lớn chưa từng thấy, phải dùng đến hàng vạn thợ xây, xây trong 7 năm mới xong. Những lần đi du ngoạn, Trụ vương và Đát Kỷ cũng làm không ít điều càn như: trong 1 lần đi dạo thấy cảnh 1 cụ già và 1 đứa trẻ đi trong mưa tuyết, cụ già thì khỏe mạnh, đứa trẻ thì run rầy vì lạnh. Đát Kỷ liền nói ông già được sinh ra lúc cha mẹ còn trẻ nên ống chân có tủy, đứa trẻ kia sinh ra khi cha mẹ đã già nên ống chân không có tủy, vì thế mà lạnh. Trụ Vương không tin, ả liền gọi người chặt chân ông lão và cậu bé ra xem rồi 2 người cùng cười ha hả. Lại 1 lần 2 người thấy 1 sản phụ liền bắt mổ bụng ra xem trai hay gái

“Bào lạc” lại là 1 phát minh của Đát Kỷ Trụ Vương. Đó là 1 ống đồng dài, khi sử dụng đem ống đồng nhét đầy than đỏ bắc ngang qua hố lửa. Lúc ấy bắt tội nhân cởi hết áo quần giay dép, bức họ chạy từ đầu này sang đầu kia của ống đồng. Đại thần trong triều bấy giờ bị tàn sát vô tội vạ. Chu Văn vương Cơ Xương được sự phò tá của thừa tướng Khương Tử Nha đã đánh đổ nhà Thương xây dựng nhà Chu. Trụ Vương thua trận bèn mặc áo dát ngọc leo lên “Lộc Đài”, châm 1 mồi lửa tự thiêu, Đát Kỷ cũng tự thắt cổ chết.

34. Bao Tự (Tam Đại Mỹ Nhân thời thượng cổ)

Bao Tự là hoàng hậu của Chu U Vương (781-770 trước CN) nhà Chu, người có sắc đẹp lộng lẫy, nhà vua cực kỳ sủng ái. Có điều lạ, nàng không bao giờ cười.

Vì để thấy nụ cười người đẹp U Vương ra lênh cho quan giữ kho mỗi ngày dâng 100 tấm lụa rồi sai cung nữ xé để làm nàng vui. Nhưng Bao Tự tuyệt nhiên vẫn không cười. Bấy giờ có viên quan tên Quách Thạch Phủ bày mẹo: “Tiên vương ta ngày xưa có xây Phong hỏa đài ở Ly Sơn, lại đặt mấy mươi cỗ trống to, phòng lúc có giặc sẽ nổi lửa đánh trống báo hiệu chư hầu sang ứng cứu. Đã lâu đất nước thái bình, không bao giờ đốt đến. Nay vua vì hoàng hậu mà đốt náng tất vui lòng mà cười. U Vương khen phải liền dọn ra Ly Sơn và đốt Phong hỏa đài. Bấy giờ chư hầu cứ nghĩ giặc giã kéo đến bèn đưa quân ứng cứu. Nhưng khi đến nơi chẳng thấy bóng giặc đâu mà chỉ thấy U Vương cùng Bao Tự đang cười hả hê. U Vương lấy làm tự đắc lắm bèn thưởng cho Quách Thạch Phủ

Nhưng sau quân Khuyển Nhung sang đánh phá, tiến đến Kiểu Kinh (kinh đô nhà Chu), U Vương đại bại liền đốt phong hỏa đài cầu viện. Các trấn chư hầu vì bị mắc lừa lần trước, cho là đại vương và hoàng hậu đương yến ẩm nên không đem quân sang cứu. U Vương bị chúa Khuyển Nhung giết chết, Bao Tự lại sa vào tay chúa Khuyển Nhung. Nhưng cuối cùng các trấn chư hầu xua quân phản công, quân Khuyển Nhung đại bại, chúa Khuyển Nhung bỏ chạy, Bao Tự vì theo không kịp mà tự tử

Thật đúng là:


Nhất tiếu khuynh nhân thành
Tái tiếu khuynh nhân quốc

35. Đại Ngọc Nhi

Hiếu Trang Thái Hoàng Thái hậu,bà nội của hoàng đế Khang Hy.Đệ nhất mỹ nhân của tộc Ái tân Giác La Mãn-Mông.

36. Triệu Cơ

Triệu Cơ , người Hàm Đan nước Triệu cuối thời Chiến Quốc, là mẹ của Tần Thủy Hoàng. Triệu Cơ đóng vai trò quan trọng trong âm mưu đưa Tần Thủy Hoàng lên ngôi của Lã Bất Vi.
Triệu Cơ vốn là thiếp của Lã Bất Vi, người tuyệt đẹp, múa giỏi đàn hay. Khi đó Tần công tử, Tử Sở, làm con tin ở nước Triệu nghèo khó khốn cung. Lã Bất Vi ra tay cứu giúp, xin Hoa Dương phu nhân nhận Tử Sở làm con nuôi, trở thành người thừa tử của thái tử An Quốc Quân.
Một lần Tử Sở sang nhà Bất Vi, nhìn thấy Triệu Cơ đem lòng say mê. Lã Bất Vi đem nàng dâng cho Tử Sở, khi đó Triệu Cơ đang mang thai. Tử Sở bèn lập nàng làm phu nhân, đến kỳ Triệu Cơ sinh con đặt là Chính.
Năm thứ 50, đời vua Chiêu Vương nước Tần, Tần sai Vương Ý vây Hàm Đan rất gấp. Nước Triệu muốn giết Tử Sở. Tử Sở cùng Lã Bất Vi mưu đưa sáu trăm cân vàng cho kẻ coi giữ nên trốn thoát về Tần. Triệu muốn giết Triệu Cơ và Chính, nhưng Triệu Cơ là con nhà tai mắt ở Triệu, lẩn trốn được vì thế mẹ con đều sống.
Năm thứ năm 56, Tần Chiêu Vương mất, thái tử An Quốc Quân lên làm vua, lập Hoa Dương phu nhân làm hoàng hậu, Tử Sở làm thái tử. Sau thời gian khốn khó ở Triệu, Triệu Cơ cùng Chính về Tần. Vua Tần lên ngôi được một năm thì mất, thái tử Tử Sở lên thay, tức là Trang Tương Vương.
Trang Tương Vương làm vua được ba năm thì mất, thái tử tên là Chính lên ngôi Tần Vương, tức Tần Thủy Hoàng, Triệu Cơ trở thành Thái hậu. Khi Tần Vương còn nhỏ tuổi, thái hậu Triệu Cơ thường lén lút tư thông với Lã Bất Vi. Về sau Tần Thủy Hoàng đã lớn, Lã Bất Vi sợ lộ sẽ mang vạ, bèn ngầm tìm kẻ dương vật lớn là Lao Ái, dùng làm người nhà. Lã Bất Vi sai Lao Ái làm trò vui, lấy dương vật của mình tra vào bánh xe gỗ đồng mà đi. Thái hậu Triệu Cơ nghe thấy muốn được Lao Ái cho riêng mình, Lã Bất Vi bèn cho Lao Ái giả làm hoạn quan rồi đem dâng cho thái hậu. Từ đó Triệu Cơ cùng Lao Ái thông ***, sinh được hai con. Lao Ái đem hai đứa con đi dấu, định lập mưu đợi Tần Thủy Hoàng chết thì lập con hắn làm vua.
Năm thứ 9 đời Thủy Hoàng, có kẻ phát giác Lao Ái thực không phải là hoạn quan và thường thông *** với thái hậu. Tần Thủy Hoàng liền giao cho pháp đình xét, biết rõ sự tình. Tháng 9 năm đó Tần Thủy Hoàng giết cả ba họ nhà Lao Ái. Lại giết hai con do thái hậu đẻ ra và đày thái hậu Triệu Cơ sang đất Ung. Tháng 10 năm thứ 10, sau khi cách chức Lã Bất Vi, Tần Thủy Hoàng mới sang Ung đón thái hậu Triệu Cơ về Hàm Dương.
Năm thứ 19 đời Thủy Hoàng, thái hậu Triệu Cơ mất, tên thụy là Đế thái hậu, chôn một chỗ với Trang Tương Vương ở Chỉ Dương.

(vẫn còn nhiều…)

2 phản hồi

  1. sói said,

    14.06.2011 lúc 16:21

    em cũng thik mấy chị này:P

  2. xuan said,

    25.06.2011 lúc 18:58

    tin được không, hay hồi đó chưa chắc có ngừ đẹp nhu elly trần, thủy top, hoàng thùy linh…maria ozawa…


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: